Dân số TP. HCM (01-04-1999)

Hệ biểu tổng hợp ĐTDS 1999

Kết quả điều tra vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 2000

Thành phố Hồ Chí Minh 25 năm

Nông thôn, nông nghiệp và thủy sản TP. HCM 2001

Thực trạng doanh nghiệp 2000 (1/4/2001)

Ấn phẩm Đại hội Đảng lần VII

Tổng điều tra cơ sở kinh tế và hành chính sự nghiệp thành phố Hồ Chí Minh năm 2002

Tăng trưởng và hiệu quả kinh tế (thành phố Hồ Chí Minh 1995-2003)

30 năm Thành phố Hồ Chí Minh - Số liệu Thống kê chủ yếu

Dân số TP.Hồ Chí Minh qua 2 cuộc Tổng điều tra 1999 - 2004

Điều tra dân số giữa kỳ 2004 TP.HCM


   N

ăm 2000, thành phố Hồ Chí Minh kỷ niệm 25 năm giải phóng, thống nhất đất nước. Hai mươi lăm năm, một phần tư thế kỷ đã qua, một giai đoạn đầy gay go, thử thách, lắm thành công và cũng không ít khó khăn, tồn tại.
Ðể phục vụ cho việc tổng kết giai đoạn đã qua, Cục Thống kê công bố những số liệu cơ bản về kinh tế-xã hội thành phố Hồ Chí Minh 25 năm (1975-1999) và có một số nhận định sơ bộ.
Các nhận định chia làm 2 phần:
- Những thành quả đạt được; và
- Những khó khăn, tồn tại.
Sau đây là những ý kiến cụ thể:

I. NHỮNG THÀNH QUẢ ÐẠT ÐƯỢC:

1. Kinh tế thành phố đã có sự đổi thay căn bản cả về lượng và chất:
Trước năm 1975, kinh tế Saigon-Gia Ðịnh chủ yếu là thương mại, dịch vụ, phụ thuộc vào viện trợ Mỹ và nhập khẩu. Một nền kinh tế tiêu dùng, phục vụ cho chiến tranh và mất cân đối nghiêm trọng. Sau 25 năm giải phóng, kinh tế thành phố, thông qua chỉ tiêu tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) đã tăng gấp 5,5 lần. Trong đó nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,6 lần; công nghiệp - xây dựng 9,6 lần và các ngành dịch vụ 4,4 lần; kinh tế quốc doanh 5,4 lần và dân doanh tăng 3,7 lần ...
Mười năm đầu sau giải phóng (1975-1985) kinh tế thành phố trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bình quân mỗi năm chỉ tăng 2,7%, đặc biệt 2 năm 1979-1980, chiến tranh biên giới, kinh tế giảm 3,4% và rất khó khăn. Từ năm 1986, chuyển sang giai đoạn đổi mới, kinh tế thành phố đã có tốc độ tăng trưởng gần gấp 3 lần giai đoạn trước đó. Tốc độ tăng bình quân của từng khu vực kinh tế như sau (đơn vị %):


 

 

Tổng GDP

Nông lâm thủy

Công nghiệp XD

Dịch vụ

1976-1980

  0,91

-0,39

  2,48

  0,46

1981-1985

  4,58

 1,56

  6,45

  4,10

1986-1990

  7,82

 3,51

10,46

  6,93

1991-1995

12,62

3,78

16,21

11,16

1996-1999

10,44

0,86

13,17

  9,03

1996-2000

  9,95

1,18

12,73

8,40


Những năm 1991-1995 là thời kỳ kinh tế thành phố có tốc độ tăng trưởng cao nhất (12,62%). Từ năm 1996 do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, tốc độ tăng có chậm lại. Tuy nhiên nhìn suốt cả 15 năm đổi mới cơ chế, kinh tế thành phố vẫn tăng ở tốc độ cao. GDP của năm 1999 bằng 1,5 năm 1995, 2,7 lần năm 1990, 3,9 lần năm 1985, 4,9 lần năm 1980 và 5,5 lần năm 1975.
Sự tăng trưởng của kinh tế thành phố ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế chung của cả nước. Trong mối quan hệ đó thì kinh tế thành phố Hồ Chí Minh luôn có tốc độ tăng cao hơn tốc độ chung của cả nước (%):

 

1976-1985

1986-1995

1986-1999

1991-1999

TP. HCM

2,7

10,1

10,3

11,7

Cả nước

2,4

  6,1

  6,3

  7,6


Sản xuất công nghiệp đã từng bước thay đổi, trước năm 1975 tập trung phục vụ cho chiến tranh, chủ yếu là công nghiệp lắp ráp và chế biến, nguyên liệu hoàn toàn phụ thuộc vào nước ngoài; sau giải phóng đã vuợt qua thời kỳ kế hoạch tập trung, từng bước thích ứng với cơ chế quản lý mới, đi dần vào thế ổn định, đáp ứng phần lớn nhu cầu người dân thành phố và cả nước, tham gia xuất khẩu ngày một nhiều. Sau 25 năm giá trị sản xuất công nghiệp đã tăng gấp 9,8 lần. Trong đó quốc doanh 6,7 lần, dân doanh 11,8 lần; công nghiệp khai thác 3,9 lần, công nghiệp chế biến 10,6 lần và công nghiệp điện, nước 3,5 lần... Từ năm 1990 xuất hiện khu vực công nghiệp có vốn nước ngoài và phát triển với tốc độ khá nhanh. Ðến năm 1999 khu vực này đã có giá trị sản lượng trên 13.103 tỷ đồng (giá 1994), chiếm 26,8% tổng giá trị sản lượng công nghiệp trên địa bàn.
Sau đây là tốc độ tăng bình quân hàng năm của từng thời kỳ 5 năm (%):

 

Toàn ngành

Quốc doanh

Dân doanh

1976-1980

  1,85

-0,64

  6,41

1981-1985

10,87

15,12

  3,20

1986-1990

  7,70

   7,01

  8,83

1991-1995

15,58

11,66

11,80

1996-1999

10,63

  7,11

  8,53


Ðã hình thành 2 khu chế xuất và 10 khu công nghiệp tập trung, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, góp phần tích cực cho sự tăng trưởng của công nghiệp thành phố.
Vị trí công nghiệp thành phố so với công nghiệp cả nước không ngừng tăng lên. Nếu năm 1980 là 21,6%, thì năm 1985: 23,0% năm 1990: 25,8%, năm 1995: 28,5% và năm 1999 là: 29,6%.
Nhiều sản phẩm công nghiệp thành phố được người tiêu dùng cả nước bình chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao và chiếm tỷ trọng lớn trong sản lượng của cả nước, như sữa hộp 72%, thuốc lá 58%, xà phòng 52%, vải lụa 51%, bia 41%, áo quần may sẵn 31% v.v... Giá trị các mặt hàng công nghiệp đã chiếm đến 86% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Sản xuất nông nghiệp, tuy diện tích đất giảm 1/3 và lao động nông nghiệp giảm gần 20%, nhưng nhờ đầu tư kỹ thuật, chuyển ngoại thành từ vành đai trắng thành vành đai xanh, thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nên giá trị sản lượng vẫn liên tục tăng lên. Tổng giá trị sản lượng nông lâm nghiệp và thủy sản năm 1999 đã bằng 2,4 lần so với lúc mới giải phóng; lâm nghiệp 2,7 lần và thủy sản 2,9 lần. Nếu tính cho từng thời kỳ 5 năm, sẽ có bảng tốc độ tăng bình quân một năm của từng thời kỳ như sau:

 

Tổng số

Nông nghiệp

Lâm  nghiệp

Thủy sản

1976-1980

0,84

-1,78

-

43,15

1981-1985

9,12

 8,87

 1,27

18,18

1986-1990

3,80

1,77

-5,67

21,13

1991-1995

4,76

5,18

 5,17

  2,73

1996-1999

-0,07

0,12

-6,19

-0,16


Các cây con có giá trị kinh tế cao tăng nhanh. Cơ sở hạ tầ?g và bộ mặt nông thôn có nhiều biến đổi.
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản tại địa bàn hàng năm trên 20 ngàn tỷ đồng. Hệ số Icor dao động từ 2,5 đến 3,5. Giá trị xây lắp hàng năm tăng từ 5% đến 15%. Tổng công ty xây dựng và tổng công ty địa ốc của thành phố được thành lập. Các đơn vị xây lắp không những đủ đảm đương xây dựng các công trinh tại thành phố mà còn mở rộng cả khu vực. Ngoài việc ngăn chặn sự xuống cấp của hạ tầng, nhiều cơ sở mới được xây dựng. Bộ mặt thành phố khang trang và đẹp hơn. Hàng năm có trên 2 triệu mét vuông nhà ở được xây dựng.
Sản lượng vận tải hàng hóa và hành khách năm 1999 đạt 16.035 triệu tấn Km và 6.239 triệu hành khách km, bình quân mỗi năm tăng từ 5%-10%. Cơ sở sân bay, bến cảng được mở rộng. Chiều dài cầu cảng 5340m, năng lực bốc xếp một năm trên 33 triệu tấn.
Hoạt động bưu chính, viễn thông có bước tiến dài. Cơ sở kỹ thuật khá hiện đại, phục vụ đắc lực cho sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của người dân. Dung lượng tổng đài điện thoại 680.000 số với 481 ngàn máy điện thoại cố định, 42.253 máy di động, 87.200 máy nhắn tin và 11.579 máy fax .v.v.
Trước giải phóng Saigon-Gia định thu không đủ chi. Chi chủ yếu là dựa vào viện trợ. Thì nay kinh tế phát triển, GDP tạo ra của thành phố không những đủ tiêu dùng xã hội, mà còn tích lũy và đóng góp phần quan trọng cho cả nước. Tỷ lệ tích lũy có xu hướng tăng dần. Nếu năm 1990 tỷ lệ tích lũy so tổng GDP là 13,4%, thì năm 1995: 29,2% và năm 1999 là 31,1%. Tỷ lệ này gấp 2 lần cả nước.
Liên quan với tích lũy là tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách. Tỷ lệ này dao động từ 25% đến 30% và là địa phương có tỷ lệ huy động cao nhất nước. Cả nước có 61 tỉnh, thành, thì năm 1997 có 19 tỉnh thành. Năm 1998 có 15 tỉnh, năm 1999 có 12 tỉnh và theo đự toán năm 2000 có 11 tỉnh, thành thu ngân sách tại địa bàn cao hơn chi ngân sách địa phương. Thành phố Hồ Chí Minh luôn có tên trong danh sách các tỉnh, thành trên. Tỷ lệ số thu ngân sách của thành phố Hồ Chí Minh so với tổng thu nội địa cả nước năm 1997 là 37%, năm 1998: 34%, năm 1999: 36% và năm 2000 theo dự toán là 34%. Nếu chỉ tính phần chênh lệch thực nộp cho ngân sách trung ương, thì thành phố Hồ Chí Minh thường chiếm trên 50%, thậm chí có năm (năm 1997) lên đến 68% tổng thực thu của cả nước. Ðiều đó nói lên thành quả phát triển kinh tế và vị trí cực kỳ quan trọng của Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang thực sự là một trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, tài chính, khoa học kỹ thuật. là đầu mối giao thông trong và ngoài nước của khu vực và cả nước.

2. Cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng tích cực:
Cơ cấu kinh tế thành phố có sự thay đổi đáng kể cả về cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần và cơ cấu vùng.
Cơ cấu ngành, chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng nông lâm nghiệp, thủy sản (Khu vực I) và dịch vụ (Khu vực III), ngược lại các ngành công nghiệp và xây dựng (Khu vực II) ngày càng lớn. Sau 25 năm, tỷ trọng nông lâm nghiệp và thủy sản trong GDP giảm hơn 3 lần (từ 7,6% xuống còn 2,3%); dịch vụ giảm 12,4% (từ 67,7% xuống còn 55,3%); tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng gần 2 lần (từ 24,7% lên 42,4%). Cụ thể:
v

 

1975

1985

1995

1999

TỔNG SỐ

100,0

100,0

100,0

100,0

- Nông lâm thủy sản

7,6

6,2

3,4

2,3

- Công nghiệp xây dựng

24,7

29,2

38,5

42,4

- Ngành du lịch

67,7

64,6

58,1

55,3


Bên trong mỗi ngành, khu vực cơ cấu cũng thay đổi. Trong công nghiệp bước đầu có chú ý phát triển các ngành công nghiệp sạch, nâng dần tỷ trọng những ngành có hàm lượng công nghệ - kỹ thuật cao. Ðồng thời coi trọng phát triển các ngành truyền thống sử dụng nhiều lao động (dệt, may, tiểu thủ công nghiệp), các ngành sử dụng nguyên liệu nội địa, thu hồi vốn nhanh v.v...
Trong khu vực 1, cơ cấu ngành lâm nghiệp chuyển từ khai thác và trồng rừng kinh tế sang trồng rừng phòng hộ là chính. Tỷ trọng ngành thủy sản đã tăng từ 1,4% năm 1976, lên 8,8% năm 1985, và 16,3% năm 1999. Trong thủy sản, sản lượng đánh bắt ngày càng nhiều hơn nuôi trồng, những năm gần đây đánh bắt xa bờ được ưu tiên đầu tư và khuyến khích phát triển. Trong nông nghiệp chăn nuôi tăng nhanh hơn trồng trọt (cơ cấu chăn nuôi năm 1976: 24,2%, năm 1985: 28,3% và năm 1999: 31,5%). Cây ăn trái, cây cảnh, cây con giống, bò sữa và gà công nghiệp tăng nhanh hơn các loại khác.
Vị trí các thành phần kinh tế trên địa bàn thành phố cũng có sự thay đổi. Trong 10 năm đầu (1975-1985), tỷ trọng kinh tế quốc doanh đã tăng từ 45,7% lên 51,9%; ngược lại các thành phần kinh tế dân doanh giảm từ 54,3% xuống còn 48,1%. Từ năm 1988 ở thành phố bắt đầu có các dự án đầu tư nước ngoài. Vị trí của khu vực này tăng rất nhanh, từ số không đã tăng lên 11,1% năm 1995 và 18,1% năm 1999. Các dự án có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp trên 1/3 tổng giá trị tăng lên của GDP toàn thành phố (năm 1995: 34,1%, năm 1996: 36%, năm 1997: 34%, năm 1998: 36,6% và năm 1999: 31,3%). Khu vực có vốn nước ngoài tăng lên bao nhiêu, thì tỷ trọng của các thành phần kinh tế khác giảm đi bấy nhiêu. Trong đó kinh tế dân doanh do có tốc độ phát triển chậm hơn kinh tế quốc doanh, nên tỷ trọng giảm nhiều hơn, bình quân 3 năm giảm 2%. Cụ thể có bảng số liệu sau (%):

 

1975

1985

1995

1999

TỔNG SỐ

100,0

100,0

100,0

100,0

* Quốc doanh

45,7

51,9

49,2

45,4

* Dân doanh

54,3

48,1

39,7

36,5

* Có vốn nước ngoài

-

-

11,1

18,1



3. Lạm phát được kiềm chế và đẩy lùi:
Giá hàng hóa và dịch vụ tăng mạnh trong những năm sau 80, đặc biệt là sau đổi tiền.. Từ năm 1992 từng bước được kiềm chế và đẩy lùi, vài năm gần đây đang có hướng thiểu phát. Sau đây là diễn biến giá (cuối năm so đầu năm) của những năm 90 (%):

Năm

Chung

Hàng hóa

Dịch vụ

1990

148,64

149,45

145,39

1991

168,93

174,49

146,67

1992

124,90

117,38

154,99

1993

104,89

101,60

118,06

1994

109,15

107,85

115,26

1995

112,92

113,86

108,53

1996

107,10

107,03

107,71

1997

102,41

102,38

103,59

1998

109,02

109,14

108,13

1999

101,56

100,40

105,25


Nếu nhìn cả thời gian dài, lấy đầu năm 1990 làm gốc thì chỉ số giá hàng hóa dịch vụ, vàng và đô la Mỹ (USD) đến năm 1995 và 1999 như sau (%):


 

 

1995

1999

1- Chỉ số hàng hoá và dịch vụ

405,45

492,37

     - Hàng hóa

381,89

458,54

     - Dịch vụ

488,10

636,34

2- Chỉ số giá vàng

214,94

206,86

3- Chỉ số giá dola Mỹ (USD)

164,47

209,78


Như vậy xét thời gian dài (từ 1990 đến 1999) thì giá dịch vụ tăng nhanh hơn giá hàng hóa, giá hàng hóa dịch vụ tăng cao hơn giá USD và giá vàng. Nói cách khác tiền đồng (Việt nam) tăng giá so với vàng và USD.

4. Quan hệ kinh tế đối ngoại được mở rộng:
Sau năm 1985, đặc biệt sau khi bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ (11.7.1995), quan hệ kinh tế của thành phố với các nước được mở rộng, có bước phát triển mới. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu từ 1990 đến 1995 tăng 3 lần và tiếp tục tăng gấp rưởi sau 4 năm tiếp theo. Cụ thể như sau:

 

1990

1995

1999

Ước 2000

Xuất khẩu (Tr.USD)

784

2.598

4.599

5.233

Nhập khẩu

967

2.907

3.368

3.435

Tổng số (Tr. USD)

1.751

5.505

7.967

8.668


Từ năm 1998 xuất khẩu đã nhiều hơn nhập khẩu. Tỷ trọng nhóm hàng công nghệ phẩm trong kim ngạch xuất khẩu đã tăng lên đáng kể, từ 64,5% năm 1993, tăng lên 72,8% năm 1995 và 83,8% năm 1999. Nếu tính cả kim ngạch xuất của các đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài, tương ứng với 3 năm (1993, 1995 và 1999) thì tỷ trọng hàng công nghiệp sẽ là 65,1%, 75,3% và 86,1%. Ðến nay thành phố đã có quan hệ xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ với trên 70 nước và lãnh thổ.
Từ năm 1988 thực hiện luật đầu tư nước ngoài, trong 12 năm đã có trên 40 quốc gia và lãnh thổ đầu tư vào thành phố với 1027 dự án được cấp phép, với 12.702 triệu USD vốn đầu tư, 6110 triệu USD vốn pháp định. Ðến nay 830 dự án còn hiệu lực với 10246 triệu USD vốn đầu tư, 5082 triệu USD vốn pháp định. Số vốn đầu tư chủ yếu tập trung vào kinh doanh bất động sản, khách sạn, nhà hàng và thương mại (4105 triệu USD, chiếm 40,1%), công nghiệp (3994 triệu USD, chiếm 39%) và vận tải bưu điện (1051 triệu USD, chiếm 10,3%) v.v...
Ðến năm 1999 khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp 18,1% vào tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP), 29,6% giá trị sản xuất công nghiệp, 17,5% kim ngạch xuất khẩu và 7,5% thu nội địa của ngân sách thành phố.

5. Ðời sống dân cư được cải thiện. Sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế đuợc tăng cường. An ninh chính trị và trật tự xã hội được giữ vững.
Do kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc độ cao, nên GDP bình quân đầu người dân thành phố sau 25 năm đã tăng từ 360 USD, lên 1350 USD (3,75 lần theo giá FOB). Bình quân 1 năm tăng 5,4%. Trong đó giai đoạn đầu (1975-1985) tăng 2,1% và giai đoạn đổi mới (1986-1999) tăng 7,8% một năm. Chương trình xoá đói, giảm nghèo của thành phố qua 8 năm thực hiện giúp vốn, kinh nghiệm làm ăn, dạy nghề, cấp đất, chữa bệnh... cho trên 100 ngàn hộ. Kết quả xoá được trên 12 ngàn hộ đói và giảm được 35 ngàn hộ nghèo. Bình quân mỗi năm giảm được 2% hộ nghèo đói, đưa tỷ lệ hộ nghèo đói của thành phố từ 25% năm 1992 đến cuối năm 1995 xoá xong hộ đói và đến nay chỉ còn 9,5% hộ nghèo. Cùng với các phong trào "nhà tình nghĩa", "nhà tình thương", "phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình", nông dân giúp nhau với tinh thần "tình làng nghĩa xóm",... đã làm giảm đáng kể hộ khó khăn, tăng số hộ có mức sống trung bình và khá. Mức chi tiêu cho đời sống bình quân một người một tháng từ 356 ngàn (năm 1995) lên 506 ngàn đồng (năm 1999). Cơ cấu chi tiêu chuyển dịch theo hướng tích cực: Chi ăn uống giảm tương đối, ngược lại các khoản chi cho ở, đi lại, học hành, giải trí tăng đáng kể. Số hộ gia đình có tiện nghi sinh hoạt đắt tiền ngày càng nhiều. Ðến năm 1999 đã có 87,7% hộ gia đình có máy thu hình, 40,8% hộ có tủ lạnh, 7% có máy điều hòa, 58,3% hộ có bếp ga, 75,2% hộ có xe gắn máy và 41,3% hộ có điện thoại v.v...

*

* *
Sau 25 năm giải phóng, kinh tế - xã hội thành phố đã đạt được những thành quả to lớn: GDP tăng 5,5 lần; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; lạm phát được kiềm chế; quan hệ đối ngoại được mở rộng; đời sống người dân được cải thiện; xã hội công bằng và văn minh hơn. An ninh chính trị và trật tự xã hội được giữ vững. Bên cạnh đó cũng còn nhiều khó khăn và yếu kém. II- NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ YẾU KÉM:
Khó khăn và yếu kém còn nhiều. Ở đây xin nêu một số:

1- Tiềm lực kinh tế còn non yếu. Hạ tầng kỹ thuật và trình độ công nghệ còn lạc hậu:
Kinh tế thành phố trong những năm qua tăng trưởng bình quân mỗi năm 7,1%, có giai đoạn tăng trên 10-12% (1990-1999); tốc độ tăng cao hơn cả nước và cao hơn nhiều tỉnh, nhưng do xuất phát điểm thấp nên qui mô còn nhỏ bé. GDP bình quân đầu người mới được 1350 USD, đó là mức quá thấp so nhiều nước.
Cơ sở hạ tầng và dịch vụ hiện có chưa đáp ứng được yêu cầu hiện tại, chứ chưa nói gì đến sự phát triển trong tương lai. Ðường xá, cầu cống, bến cảng, sân bay thiếu về lượng và kém về chất.
Trong các doanh nghiệp, thiết bị máy móc đã ít về số lượng lại lạc hậu về công nghệ, phần lớn thuộc thế hệ cũ, chấp vá. Ở các đơn vị công nghiệp hệ số hao mòn tài sản cố định trên 27%, riêng doanh nghệp nhà nước tỷ lệ này là 52%. Nếu tính đủ hao mòn thực tế cả hữu hình và vô hình, tỷ lệ đó còn cao hơn. Thời gian đã sử dụng bình quân chung của máy móc, thiết bị là 11 năm. Ðáng lưu ý có 17,5% đã sử dụng 10-15 năm và trên 16,7% đã sử dụng trên 15 năm. Về trình độ kỹ thuật chỉ có 1,4% tự động, 36% bán tự động, 20,8% cơ khí, 28,6% bán cơ khí và 12,7% ở trình độ thủ công. Về trình độ công nghệ, chỉ có 14% tiên tiến, 50,5% trung bình và 35,5% là lạc hậu.
Ðầu tư mới chậm. Hệ số Icor trên lý thuyết từ 2,5 đến 3,5, nhưng do độ trễ lớn, sự thất thoát trong đầu tư còn nhiều, cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, hiệu quả đầu tư thấp, nên hệ số Icor trong thực tế thấp hơn nhiều.

2. Hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp; hàng hóa, dịch vụ thiếu sức cạnh tranh:
Hiệu quả nói ở đây gồm cả góc độ doanh nghiệp và góc độ xã hội. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trước hết là hiệu quả sử dụng đồng vốn. Ðến cuối năm 1999 tổng nguồn vốn sản xuất kinh doanh trên địa bàn gần 200 ngàn tỷ đồng (chưa tính đến các công trình công cộng, cầu đuờng, đất và 1 số vật kiến trúc...). Trong đó vốn sở hữu chỉ chiếm 45%. Tỷ lệ đó ở khu vực nhà nước 31%, khu vực dân doanh 70% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 34%. Số vốn bình quân một doanh nghiệp đã ít, lại bị chiếm dụng lòng vòng. Hiệu quả sử dụng đồng vốn thấp. Tính chung toàn nền kinh tế một đồng vốn chỉ tạo ra được chưa đến 0,2 đồng lợi nhuận một năm. Trong đó quốc doanh 0,18 đồng và dân doanh 0,23 đồng. Nếu trừ đi phần thuế đóng góp cho ngân sách, thì phần lợi nhuận còn lại trên một đồng vốn là 0,11, quốc doanh 0,08 và dân doanh 0,17, thấp hơn lãi suất huy động của ngân hàng. Hàng năm số doanh nghiệp bị lỗ khá lớn, thường phải trên 20%.
Ở góc độ xã hội, hiệu quả kinh tế được thể hiện ở tỷ lệ tích lũy và huy động GDP vào ngân sách. Tỷ lệ tích lũy ở thành phố dao động từ 25% đến 35%.Tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách từ 20% đến 25%.
Sức cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ yếu, thể hiện ở chỗ giá còn cao và chất lượng sản phẩm phổ biến là thấp. Một vấn đề cần quan tâm hiện nay là tỷ giá cánh kéo giữa "đầu vào" của nền kinh tế nói chung và của lĩnh vực công nghiệp nói riêng với các "đầu ra" của chúng. Trong khi giá điện, nước, chất đốt, vật liệu xây dựng và dịch vụ là "đầu vào" của hầu hết các ngành sản xuất đều tăng, mà giá sản phẩm "đầu ra" lại chỉ tăng chậm, hoặc không tăng, do người mua không chấp nhận, người bán không thể tùy tiện tăng giá, hơn nữa do yếu tố cạnh tranh, người bán phải giảm lãi để tiêu thụ được hàng. Ðối với các mặt hàng xuất khẩu bị sự cạnh tranh khốc liệt của các nước. Vừa qua do khủng hoảng, nhiều đồng tiền trong khu vực bị mất giá, giá nhiều mặt hàng và dịch vụ của các nước rẽ hơn Việt nam. Mặt khác còn bị sức ép của hiện tượng bán phá giá tranh khách hàng. Rồi đây hàng rào mậu dịch được dở bỏ, chúng ta sẽ còn khó khăn hơn nhiều.
Ðời sống người dân được cải thiện, nhu cầu tiêu dùng ở các nước và tại Việt nam được nâng cao, yêu cầu phẩm cấp hàng hóa và dịch vụ cũng được nâng cao tương ứng. Trong khi kỹ thuật và công nghệ của chúng ta còn lạc hậu, chất lượng hàng hóa hạn chế, khó tiêu thụ. Ðó là chưa nói đến hiện tượng hàng gian, hàng giả,v.v... làm cho sức cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ thành phố nói riêng và Việt nam nói chung sẽ gặp khó khăn rất nhiều.

3. Cơ chế quản lý kinh tế chưa hoàn thiện và sự chậm trễ trong cải cách hành chính là yếu tố cản trở quá trình phát triển:
Chính phủ đã đặc biệt quan tâm tháo gỡ những trở ngại trong cơ chế, tạo điều kiện cho địa phương và doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Song nhiều vướng mắc vẫn còn đó. Sức ì của các cơ quan quản lý vẫn còn rất lớn. Từ chủ trương đến thực hiện còn không ít cản ngại. Cái gốc của cơ chế và cải cách hành chính là bộ máy Nhà nước và con người.
Quá trình chuyển đổi cơ chế là quá trình vừa gỡ bỏ cơ chế cũ, vừa xây dựng cơ chế mới. Sự đoạn tuyệt với cơ chế cũ; xây dựng, tiếp thu và vận hành cơ chế mới là cả một quá trình gay go và phức tạp. Vì cơ chế cũ đã từng ăn sâu vào nếp nghĩ, cách làm của hàng triệu người. Chừng nào cơ chế mới chưa hoàn toàn được xác lập theo chiều sâu, thì tiêu cực còn phát sinh, vì trong nền kinh tế thị trường động lực cá nhân đuợc giải tỏa, nhưng cơ chế quản lý mới chưa hoàn thiện, thì động lực cá nhân sẽ biến dạng, méo mó, dẫn đến tình trạng vi phạm kỹ cương, phép n