I.
MỘT SỐ CHÚ THÍCH CHO ẤN PHẨM
1.
Để tiện cho việc sử dụng số
liệu và tránh nhầm lẫn, một số
chú thích về cách tính toán số
liệu sẽ được trình bày
ở phần này. Ngoài đơn vị
tính của từng chỉ tiêu ở dòng
tương ứng, các chỉ tiêu sẽ
được đánh số theo thứ
tự từ (1) đến (28).
2.
Các chỉ tiêu trình bày ở ấn phẩm
này chủ yếu được tính toán
từ kết quả điều tra toàn bộ
năm 1999 và 2004. Riêng năm 2004, có 10 chỉ tiêu
được tính từ kết quả
điều tra mẫu 10% của cuộc điều tra dân
số giữa kỳ là các chỉ tiêu
từ (19) đến (28).
3.
Chỉ tiêu (6) = ((Số trẻ em 0-14 tuổi + Số
người 65 tuổi trở lên) / Dân số
15-64 tuổi) x100.
4.
Chỉ tiêu (8) được tính cho 5 năm
trước thời điểm điều tra.
5.
Chỉ tiêu (13) tính cho dân số 15 tuổi trở
lên.
6.
Chỉ tiêu (14) tính cho dân số 15 tuổi trở
lên có trình độ học vấn từ
lớp 9 trở lên, không phân biệt đang đi
học hay đã thôi học.
7.
Chỉ tiêu (18) bằng tổng số năm đi
học của dâ từ 7 tuổi trở lên chia cho dân
số từ 7 tuổi trở lên của địa
phương. Tổng số năm đi học
được tính bằng tổng dân số
từ 7 tuổi trở lên phân theo
từng trình độ nhân với hệ số
của từng trình độ. Chỉ
tiêu này phản ảnh mặt bằng dân
trí của địa phương, là kết
quả công tác xóa mù chữ, phổ cập
giáo dục và phát triển giáo dục trên
địa bàn.
8.
Chỉ tiêu (19) tính cho những người
từ 15 tuổi trở lên đang làm việc
có bằng/chứng chỉ từ các
trường lớp dạy nghề hoặc
có bằng tốt nghiệp trung học chuyên
nghiệp, cao đẳng, đại học, trên đại
học.
9.
Chỉ tiêu (22) - Nước hợp vệ sinh bao
gồm nước máy, nước mưa,
nước giếng khoan, nước đổi
và nước khác đảm bảo vệ sinh
là nước đảm bảo các tiêu
chuẩn: không màu, không mùi vị lạ và
cách nguồn ô nhiễm ít nhất 7 mét.
10.
Chỉ tiêu (23) - Hố xí hợp vệ sinh là
hố xí tự hoại hoặc bán
tự hoại hoặc hố xí Suilabh
(thấm).
11.
Tỷ lệ hộ có điện thoại tính
cả hộ có điện thoại cố định
hay điện thoại di động.
12.
Số liệu quận Bình Tân năm 1999 bao gồm
thị trấn An Lạc và các xã thuộc
huyện Bình Chánh cũ đã phân về
quận Bình Tân.
Số
liệu năm 1999 của huyện Bình Chánh chỉ
bao gồm những xã thuộc huyện Bình
Chánh cũ được phân về huyện
Bình Chánh mới.
Số liệu năm 1999 của quận Tân
Bình là số liệu của quận Tân Bình
cũ.
II. MỘT SỐ KHÁI NIỆM,
ĐỊNH NGHĨA SỬ DỤNG TRONG ĐIỀU TRA
DÂN SỐ GIỮA KỲ 1-10-2004.
1. Hộ
Hộ
bao gồm một hay một nhóm người
ở chung và ăn chung. Họ
có thể có hoặc không có quỹ thu chi chung; họ có thể có
hoặc không có quan hệ ruột thịt;
hoặc kết hợp cả hai.
2. Nhân khẩu thực tế
thường trú
Một
người được coi là nhân khẩu
thực tế thường trú (TTTT) tại
hộ nếu người đó thực tế
đã sống tại hộ hoặc mới chuyển
đến ở ổn định tại hộ, không
phân biệt đã được hay chưa
được cơ quan Công an cho đăng ký
hộ khẩu thường trú.
Nhân khẩu TTTT tại
hộ bao gồm những người sau đây:
-
Những người vẫn ở ổn
định tại hộ.
-
Những người mới chuyển
đến ở ổn định tại hộ.
-
Những người thường xuyên sống
tại hộ nhưng hiện tạm vắng.
Chú ý: Đối với những
người ở các tỉnh, thành phố
khác đến thành phố Hồ Chí Minh
làm ăn, sinh sống thì quy ước như
sau:
- Nếu đi cả
hộ thì tính là nhân khẩu TTTT tại nơi
mà họ hiện đang cư trú không kể
thời gian
họ đã đến thành phố
đủ 6 tháng chưa.
- Nếu chỉ đi
một hoặc một số người trong
hộ:
+ Nếu họ đã
rời nơi ở cũ từ 6 tháng
trở lên, tính đến thời điểm
điều tra thì
được tính là nhân khẩu
TTTT tại nơi đang ở.
+ Nếu họ đã
rời nơi ở cũ dưới 6
tháng không tính là nhân khẩu TTTT tại nơi
đang ở.
Trường
hợp những người dân nhập cư
đến thành phố, do thường xuyên thay
đổi việc làm, thay đổi nơi ở giữa
các quận, huyện nên thời gian
được tính là thời gian
để họ bắt đầu đến thành
phố làm ăn, sinh sống chứ không phải
xét thời gian họ sinh sống tại nơi
đang ở. Có thể họ vừa
mới chuyển đến nơi đang ở
có 1 tháng, nhưng thời gian trước
đó họ đã đến thành phố
hơn 6 tháng và chuyển chổ ở nhiều
nơi trong thành phố, mỗi nơi ở 1
vài tháng thì cũng tính là nhân khẩu
TTTT.
Một số điểm cần chú
ý khi xác định nhân khẩu TTTT:
- Đối
với những người có hai
hoặc nhiều nơi ở: Những
người này được xác
định là nhân khẩu TTTT tại nơi mà
họ có thời gian ở nhiều hơn.
- Đối với
những người ăn
một nơi, ở một nơi: Những
người này được xác
định là nhân khẩu TTTT tại nơi mà
họ ngủ.
3. Dân tộc
Người điều tra thuộc dân tộc
nào thì khai rõ tên gọi của dân tộc
đó. Con của hai vợ chồng không
cùng dân tộc, nếu đã đủ 18 tuổi
trở lên thì người con đó
tự xác định dân tộc cho mình. Nếu
chưa đủ 18 tuổi thì do cha mẹ thống
nhất khai thay.
Những người nước
ngoài đã nhập quốc tịch Việt Nam
thì quy ước ghi tên quốc tịch gốc
của họ.
5. Biết
đọc, biết viết
Là những người có thể
đọc, viết và hiểu đầy đủ
những câu đơn giản bằng tiếng
Việt, tiếng dân tộc, hoặc tiếng
nước ngoài.
6. Trình
độ chuyên môn kỹ thuật cao nhất đã
đạt được
Là trình độ
chuyên môn, kỹ thuật cao nhất mà một
người đã được công nhận
hoặc đã tốt nghiệp trong các trường,
lớp đào tạo chuyên môn, kỹ thuật
ở trong nước hoặc ở
nước ngoài, đào tạo chính quy
hoặc không chính quy.
6.1.
Không có trình độ: Những
người không có bất kỳ một
bằng cấp hoặc chứng chỉ về
chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ chỉ làm
được những công việc giản
đơn.
6.2.
Công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ có
bằng/chứng chỉ: bao gồm những
người đã có bằng hoặc
chứng chỉ chứng nhận đã tốt
nghiệp các trường lớp dạy
nghề hoặc chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp
vụ dưới trình độ trung học chuyên
nghiệp (ở trong nước và ngoài
nước), không phân biệt bậc thợ cao hay
thấp, thời gian đào tạo dài hay
ngắn.
6.3.
Trung học chuyên nghiệp: bao gồm những
người đã có bằng tốt
nghiệp trung học chuyên nghiệp.
6.4.
Cao đẳng: bao gồm những
người đã có bằng tốt
nghiệp các trường đào tạo
bậc cao đẳng.
6.5.
Đại học: bao gồm những
người đã có bằng tốt
nghiệp các trường đào tạo
bậc đại học.
6.6.
Thạc sĩ/ Tiến sĩ: bao gồm những
người đã được cấp
học vị thạc sĩ hoặc tiến sĩ. Những người đã
được bồi dưỡng thêm một
số môn học sau đại học hoặc chỉ
qua thực tập sinh sau đại học, thì
không tính là có trình độ thạc
sĩ hoặc tiến sĩ.
7. Dân số
thành thị và nông thôn
Khu vực thành thị bao gồm các
quận nội thành, các phường và
các thị trấn thuộc các huyện.
Khu
vực nông thôn
bao gồm tất cả các xã.
8. Nguồn nước
ăn, uống chính
Là
nguồn nước chủ yếu mà hộ
đã dùng để ăn
uống với thời gian sử dụng
nhiều nhất trong năm, không phân biệt nguồn
nước đó lấy từ đâu của
hộ hay của tập thể, của người
khác.
9. Loại
nhà
9.1.
Nhà kiểu biệt thự: Là nhà kiên cố có 1
tầng hay nhiều tầng, khu phụ gắn liền
với phòng ở, toàn bộ ngôi nhà
có vườn, tường, hàng rào bao
bọc xung quanh.
9.2.
Nhà kiên cố khép kín: Là nhà kiên cố một, hay
nhiều tầng hoặc những căn hộ trong
nhà kiên cố nhiều tầng có khu phụ
gắn liền để dùng riêng cho hộ gia
đình.
9.3.
Nhà kiên cố không khép kín: Là nhà kiên cố một, hay
nhiều tầng hoặc những căn hộ trong
nhà kiên cố nhiều tầng mà không có khu
phụ sử dụng riêng, có khu phụ sử
dụng chung với nhiều hộ khác (khu phụ
tách rời).
9.4.
Nhà bán kiên cố:
Là nhà được xây dựng
bằng các vật liệu có chất
lượng bình thường như nhà
tường xây hay ghép gỗ, khung gỗ, mái
ngói, mái tôn hoặc xây dựng bằng
các vật liệu tương đương… (không kể có hay không có khu phụ
gắn liền với nhà ở) để
dùng riêng cho gia đình mình.
9.5.
Nhà tạm, nhà khác : Là các loại nhà không
thuộc các nhóm trên. Gồm nhà có kết
cấu vật liệu đơn giản như các
loại tranh, tre, lán, trại và những nơi
tận dụng để ở, nơi ở có
tính chất tạm thời, nơi gầm cầu,
thùng hàng tận dụng để ở.
10. Loại hố xí
10.1.
Hố xí tự hoại và bán tự
hoại: Là loại hố
xí có dùng nước để thải phân
qua đường ống xuống bể phốt, không
phân biệt nước đổ vào bệ xí
qua đường ống hay đổ nước
vào bệ xí bằng thùng, xô, chậu.
10.2. Hố xí thấm
(Suilabh): Là loại hố
xí tự hủy phân bằng cơ chế
đổ nước-thấm.
10.3.
Hố xí thô sơ: Gồm các loại
hố xí 1 ngăn, 2 ngăn hoặc đơn
giản chỉ là một cái hố
đào/đắp/xây. Hố xí dùng
nước nhưng không có bể phốt,
hoặc cầu
cá,… cũng thuộc loại này.
10.4.
Không có hố xí: Là trường hợp hộ
không sử dụng bất kỳ một loại hố
xí nào, mà phải đi đại tiện
ngoài đồng/bãi đất trống,...
***








