Dân số TP. HCM (01-04-1999)

Hệ biểu tổng hợp ĐTDS 1999

Kết quả điều tra vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 2000

Thành phố Hồ Chí Minh 25 năm

Nông thôn, nông nghiệp và thủy sản TP. HCM 2001

Thực trạng doanh nghiệp 2000 (1/4/2001)

Ấn phẩm Đại hội Đảng lần VII

Tổng điều tra cơ sở kinh tế và hành chính sự nghiệp thành phố Hồ Chí Minh năm 2002

Tăng trưởng và hiệu quả kinh tế (thành phố Hồ Chí Minh 1995-2003)

30 năm Thành phố Hồ Chí Minh - Số liệu Thống kê chủ yếu

Dân số TP.Hồ Chí Minh qua 2 cuộc Tổng điều tra 1999 - 2004

Điều tra dân số giữa kỳ 2004 TP.HCM


Một số ý kiến

Tổng điều tra dân số  và nhà ở

TP Hồ Chí Minh 01-04-1999

 

Dân số là một vấn đề kinh tế - xã hội tổng hợp và có vị trí đặc biệt quan trọng. Nói đến dân số thành phố Hồ Chí Minh là nói đến 1/4 dân số đô thị của cả nước và nói đến một thành phố đông dân của thế giới. Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố trẻ. Dân số thành phố Hồ Chí Minh cũng là dân số trẻ. Những năm qua, thành phố Hồ Chí Minh đã giảm đáng kể tỷ lệ tăng tự nhiên của dân số; đồng thời cũng tạo nhiều chuyển biến tích cực về cơ cấu, chất lượng của dân số.

Trong tài liệu này, văn phòng Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở thành phố  sẽ cố gắng nêu lên những phân tích và nhận xét rút ra từ kết quả xứ lý số liệu Tổng điều tra dân số ngày 01 tháng 4 năm 1999 và những tư liệu có được. Sau đây là những ý kiến cụ thể :  

I- DÂN SỐ VÀ SỰ GIA TĂNG CỦA DÂN SỐ

1.1. Dân số thành phố trước năm 1975:

 

Ðể hiểu rõ hơn dân số thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, chúng tôi xin nhắc lại một số nét về dân số thành phố Hồ Chí Minh trước năm 1975. Thành phố Hồ Chí Minh vừa tròn 300 năm. Ðầu thế kỷ 17, một số người từ miền Trung và miền Bắc kéo vào sinh sống. Nhờ điều kiện địa lý đặc biệt thuận lợi cho giao lưu và phát triển kinh tế,  số cư dân đã tăng lên nhanh chóng. Từ mấy ngàn người lúc đầu, đến năm 1859, thực dân Pháp chiếm thành Gia định,  số dân ở đây có khoảng một vạn. Ðến cuối thế kỷ 19, đã có hơn 8 vạn người. Ðầu đại chiến thế giới lần thứ nhất, Sài Gòn - Hòn ngọc Viễn Ðông có số dân lên đến 30 vạn. Năm 1945, số dân Sài Gòn - Chợ Lớn tăng vọt lên 85 vạn. Sau 9 năm kháng chiến chống Pháp, Sài Gòn Gia định đã có 172 vạn dân. Từ năm 1954 đến tháng 4 năm 1975, Sài Gòn là trung tâm chính trị, hành chính của chính quyền ngụy. Do chính sách khủng bố của Mỹ ngụy, người dân vùng thôn quê phải rời bỏ ruộng vườn về đô thị kiếm sống và tránh bom đạn. Số dân Sài Gòn tăng rất nhanh, chỉ sau 20 năm số dân tăng gấp đôi, từ 1,7 triệu năm 1954, tăng lên 3,5 triệu năm 1975. Bình quân mỗi năm tăng 3,8%. Số người kéo về Sài Gòn ngày một nhiều. Nếu trước năm 1940, mỗi năm có 5 ngàn, thì thời gian 1941-1950 mỗi năm có 12-13 ngàn. Những năm 1951-1959 số đó tăng lên gấp đôi; riêng 2 năm 1954-1955, sau hiệp định Giơnevụ có 17 vạn người di cư từ miền Bắc và các tỉnh khác kéo về Sàigon. Từ năm 1960 về sau, mỗi năm có 3 vạn dân đến Sàigon cư ngụ.

Cùng với tăng cơ học, tốc độ tăng tự nhiên của dân số Sài Gòn trong những năm đầu 1970  cũng rất cao, chưa có năm nào dưới 3,9%. Sinh suất thấp nhất 4,6%, tử suất có chiều hướng giảm, nhưng vẫn còn trên 0,7%. Số sinh gấp 6-7 lần số tử. Mỗi gia đình bình quân có  5-6 con. Các biện pháp hạn chế sinh đẻ ít được áp dụng. Chỉ có 1,9% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ thực hiện kế hoạch hóa gia đình. Từ năm 1955, Sàigon đã bước qua giai đoạn "tái sản xuất dân số" và chuyển sang giai đoạn "bùng nổ dân số", kéo dài đến đầu những năm 1970.  

1.2. Dân số thành phố từ 1975 đến 1999:

Từ năm 1975, sự  biến động dân số thành phố chuyển theo chiều hướng mới. Qui luật tăng bù của dân số sau chiến tranh không thể hiện rõ nét. Sinh suất giảm, tử suất ổn định, tốc độ tăng tự nhiên chậm lại và giảm dần: Năm 1976 là 1,95%, năm 1980: 1,73%, năm 1985: 1,71%, năm 1990: 1,67%, năm 1995: 1,48% và đến năm 1999 chỉ còn 1,36%. Bình quân một năm giảm được 0,02%. Tốc độ tăng tự nhiên dân số từ  chỗ cao, đã xuống thấp hơn cả nước. Ðó là kết quả của sự nổ lực tổng hợp nhiều biện pháp. Song trước hết là nhờ sự nổ lực của các cơ quan chức năng, sự tiến bộ trong nhận thức và những thành tích đạt được của công tác kế hoạch hóa gia đình, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân.

Số người thực hiện các biện pháp hạn chế sinh đẻ từ năm 1990 đến năm 1995 tăng lên gấp 1,3 lần và 4 năm sau (1999) tiếp tục tăng 20,7%. Số bà mẹ sinh con ở tuổi dưới 20, trên 40 và sinh con thứ  3 giảm đáng kể. Các tỷ lệ tương ứng đó ở năm 1985 là 6,1%, 6,8%, 34,7%, đến năm 1999 còn 4,9%, 4,1% và 9,8%. Tỷ suất sinh thô, tỷ suất chết thô và tỷ suất chết của trẻ sơ sinh tính cho 12 tháng trước thời điểm 01 tháng 4 năm 1999 là 18,04‰, 4,24‰ và 10,53‰.

Các tỷ suất này đều giảm nhiều so với 10 năm trước đó. Ðặc biệt tỷ suất chết của trẻ sơ sinh ở thành phố chỉ bằng non 1/3 của cả nước (36,7‰). Ðến 1999 tổng tỷ suất sinh đặc trưng  là 1,41 con/1 phụ nữ trong tuổi sinh đẻ, giảm 40% so với năm 1989 và đã thấp hơn mức sinh thay thế. (Tổng tỷ  suất sinh đặc trưng cả nước 2,34 con/1 phụ nữ trong tuổi sinh đẻ. Cả nước có 23/61 tỉnh thành đã đạt, hoặc thấp hơn mức thay thế). Tỷ suất sinh đặc trưng cao nhất ở nhóm tuổi 25-29 cũng chỉ 0,0855. Tỷ suất sinh đặc trưng thành thị thấp hơn  nông thôn.  

Tỷ suất sinh đặc trưng năm 1999:

Tuổi người mẹ

Toàn thành

Thành thị

Nông thôn

15-19

0,0147

0,0121

0,0276

20-24

0,0726

0,0647

0,1190

25-29

0,0855

0,0841

0,0938

30-34

0,0639

0,0637

0,0644

35-39

0,0283

0,0268

0,0380

40-44

0,0156

0,0158

0,0137

45-49

0,0004

-

0,0025

 

Tổng tỷ suất sinh đặc trưng (số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ) của thanh phố luôn thấp hơn cả nước trong cả 2 năm 1998 và 1999:

 

 

Tổng số

Thành thị

Nông thôn

1998

1999

1998

1999

1998

1999

Thành phố HCM

1,45

1,41

1,38

1,34

1,84

1,80

Cả nước

2,48

2,34

1,77

1,68

2,73

2,57

Tỷ lệ người mẹ chia theo nhóm tuổi khi sinh con trong năm 1999 là (%):

 

Toàn thành

Thành thị

Nông thôn

Tổng số

100,00

100,00

100,00

Dưới 20 tuổi

   4,94

4,13

8,65

20-24 tuổi

27,59

25,66

36,33

25-29

32,19

33,33

26,99

30-34

22,65

23,90

16,90

35-39

8,51

8,55

8,30

40-44

4,06

4,43

2,42

45 trở lên

0,06

-

0,35

 

Tuổi của người mẹ khi sinh con tập trung từ 20 đến 29 tuổi, ở thành thị từ tuổi 25-29, ở nông thôn từ 20-24 tuổi.

Kết quả điều tra cũng cho thấy trình độ học vấn người mẹ càng cao thì tuổi sinh con lần đầu càng chậm, số con trung bình càng ít; lao động trí óc và lao động phi nông nghiệp sinh ít con hơn lao động nông nghiệp.

Như trên đã nói, tốc độ tăng tự nhiên của dân số thời gian qua đã giảm đáng kể, bình quân mỗi năm giảm được 0,02%. Tuy nhiên điều đáng lưu ý là số lượng tăng tuyệt đối hàng năm vẫn không giảm. Số trẻ em tăng tự nhiên bình quân một năm của thời kỳ 1981-1985 là 58.924, những năm 1986-1990 là 59.475, 1991-1995 là 63.169 và 1996-1999 là 67.451. Ðiều đó có nghĩa là mức giảm về tốc độ tăng tự nhiên chưa đủ để làm giảm lượng tăng tuyệt đối của dân số.

Về biến động cơ học: Trong 10 năm sau giải phóng, số người đi nhiều hơn đến. Bình quân chung trong 10 năm (1975-1985) mỗi năm giảm cơ học 1,14%. Ðây là thời kỳ thành phố gặp nhiều khó khăn, chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, kinh tế chưa kịp phục hồi sau chiến tranh. Một bộ phận dân cư được đưa về quê sinh sống, một số đi kinh tế mới và một số vượt biên...

Từ năm 1986, kinh tế thành phố chuyển sang thời kỳ đổi mới, nhu cầu lao động tăng lên, đời sống người dân từng bước được cải thiện, diện tích đô thị hóa ngày càng rộng, người đi ít dần, người đến ngày một nhiều, mỗi năm tăng cơ học 30-40 ngàn người, có khi còn cao hơn. Nếu chỉ tính người đến thành phố, 5 năm 1975-1980 là 1, thì 1981-1985 là 1,5, 1986-1990 là 2,1, 1991-1995 là 2,5 và 1986-1999 là 2. Tỷ lệ tăng cơ học chung cho thời kỳ 1986-1999 là 0,78%, bằng 1/2 tốc độ tăng tự nhiên.

Số dân tăng cơ học nhiều nhất là thời kỳ 1991-1995 là 0,96% một năm, tương đương 42.538 người. Ðây cũng là thời kỳ kinh tế thành phố có tốc độ tăng cao nhất, kể từ năm 1975. Tốc độ tăng cơ học của dân số tỷ lệ thuận với tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) thành phố. Kinh tế càng tăng cao, thì số người đến thành phố càng nhiều và số người đi càng ít. Sau đây là tốc độ tăng cơ học và tốc độ tăng GDP qua các thời kỳ từ 1975 đến 1999:

 

 

Tăng cơ học (%)

Tăng GDP (%)

1975-1980

-2,19

0,91

1981-1985

-0,09

4,58

1986-1990

0,59

7,82

1991-1995

0,96

12,62

1996-1999

0,82

10,44

 

Tính cho thời kỳ 5 năm (1994-1999)  số người nhập cư từ các tỉnh đến thành phố là 415.387 người và từ nước ngoài 5831 người, ngược lại số người xuất cư là 78.375 .Tỷ suất nhập cư là 8,91%, tỷ suất xuất cư là 1,69% và tỷ suất di cư thuần túy là 7,22%. Cao hơn các thành phố khác (Hà Nội 4,8%, Ðà Nẵng 4,7%...) và nhiều hơn 3,4 lần cách đây 10 năm (1984-1989: 2,1%). Trong số người nhập cư thì nữ nhiều hơn nam (nữ 54%; nam 46%). Ðiều đó  phù hợp với sự tăng trưởng của kinh tế thành phố trong mấy năm qua. Lao động nhập cư tập trung được tuyển vào các ngành sử dụng nhiều lao động nữ và có tốc độ phát triển cao, như các ngành dệt may (tăng 15,2%), chế  biến thực phẩm (tăng 13,2%), dịch vụ và buôn bán nhỏ (tăng 9,1% một năm). Ngược lại trong số xuất cư, thì nam nhiều hơn nữ  (nam 56,5%; nữ 43,5%).

Trong số người đến thành phố trong 5 năm qua, thì các tỉnh phiá Bắc (từ Quãng Bình trở ra), chiếm 22,8%, các tỉnh miền Trung 21,4%; các tỉnh Ðông Nam bộ 19,7% và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long 36,1%... Trên 88,7% số người mới tới thành phố, định cư ở các quận; còn lại 11,3% ở các huyện. Nhiều nhất là Tân Bình 77.205 người, kế đến là Gò Vấp 41.335 người, Thủ Ðức 36.829 người và Bình Chánh 31.213 người.v.v.

Số người có nguồn gốc từ nước ngoài đến thì 91% cư ngụ tại các quận (5306 người); đặc biệt là Tân Bình 1.101 người, Quận 11 có 603 người, Quận 10 có 365 người.v.v.

Tính chung trong 24 năm (1975-1999) số dân thành phố tăng 1566 ngàn người (44,76%), bình quân một năm tăng 1,59% (65.240 người). Trong đó tăng tự nhiên 1,57% và tăng cơ học 0,02%. Sau đây là tốc độ tăng dân số cụ thể của từng thời kỳ (%):

 

 

Tổng tăng

Tăng tự nhiên

Tăng cơ học

1975-1980

-0,40

1,79

-2,19

1981-1985

1,59

1,68

-0,09

1986-1990

2,13

1,54

0,59

1991-1995

2,42

1,46

0,96

1996-1999

2,21

1,39

0,82

1975-1985

0,59

1,73

-1,14

1986-1999

2,25

1,47

0,78

1975-1999

1,59

1,57

0,02

 

Và số dân trung bình ở một số mốc thời gian như sau (Ðơn vị tính: người):

 

 

Tổng số

Nam

Nữ

1975

3.498.120

1.637.328

1.860.792

1980

3.428.523

1.625.806

1.802.717

1985

3.706.784

1.760.376

1.946.408

1990

4.118.360

1.955.534

2.162.826

1995

4.640.117

2.219.832

2.420.285

1999

5.063.871

2.438.310

2.625.561

1.3. Dân số thành phố lúc 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 1999:

Tại thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 1999, tổng số dân thường trú tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh là 5.037.155 người, chiếm 6,6% số dân cả nước và là đơn vị hành chánh có số dân đông nhất nước. Bao gồm 2.424.415 nam (chiếm 48,2%), 2.612.740 nữ (chiếm 51,8%); 4.204.662 dân thành thị (83,5%) và 832.493 dân nông thôn (16,5%).

Số dân trên chưa  tính những người tạm trú và khách vãng lai. Nếu tính tất cả, số người có mặt tại địa bàn thành phố lúc thời điểm điều tra là 5.306.771 người. Gồm 2.559.388 nam, 2.747.383 nữ; 4.105.755 người đã có hộ khẩu, 31.380 người cư trú trên 6 tháng, nhưng chưa  có hộ khẩu tại thành phố và 296.616 người tạm trú, khách vãng lai.

Trong 22 quận, huyện có 5 quận, huyện có số dân thường trú trên 300 ngàn người/quận huyện; 9 quận, huyện có số dân từ 200 đến 300 ngàn người và có 8 quận, huyện có số dân dưới 200 ngàn. Quận Tân Bình có số dân gần 579 ngàn người, đông nhất thành phố, gấp 10 lần số dân huyện Cần Giờ và nhiều hơn số dân 4 tỉnh Ninh Thuận, KomTum, Bắc Cạn và Quảng Trị.

Bình quân mỗi quận có 243 ngàn dân, mỗi huyện có 183 ngàn, mỗi phường có 17,3 ngàn và mỗi xã có 14 ngàn dân.

So với kết quả 2 cuộc Tổng điều tra lần trước, dân số thường trú năm 1999 tăng 26,3% so với năm 1989 và tăng 47,3% so với năm 1979. Như vậy, bình quân một năm trong thời kỳ 1989-1999 dân số thành phố tăng 2,37% (tăng tự nhiên 1,53% và tăng cơ học 0,84%), cao hơn 10 năm trước đó, do tăng cơ học cao hơn gấp 5 lần (thời kỳ 1979-1989 tăng bình quân 1,78%, tự nhiên 1,61%, cơ học 0,17%).

Mười năm (1989-1999) dân số thành phố tăng thêm 1.049 ngàn người, gần tương đương với số dân của một tỉnh trung bình (cả nước có 61 tỉnh, thành với 76.325 ngàn người, bình quân một tỉnh 1.251 ngàn người, có 26 tỉnh số dân dưới 1 triệu người).  

Dân số thành phố qua 3 cuộc tổng điều tra (người):

 

01-10-1979

01-4-1989

01-4-1999

Tổng số

3.419.978

3.988.124

5.037.155

+ Nam

1.622.072

1.890.343

2.424.415

    Nữ

1.797.906

2.097.781

2.612.740

+ Thành thị

2.700.849

2.946.426

4.204.662

    Nông thôn

719.129

1.041.698

832.493

Tốc độ tăng dân số qua các cuộc Tổng điều tra (%) :

 

1979-1989

1989-1999

1979-1999

Tổng số

1,54

2,37

1,96

* Nam

1,50

2,52

2,02

   Nữ

1,57

2,21

1,87

* Thành thị

0,87

3,61

2,23

   Nông thôn

3,75

-2,21

0,73

 

II. CƠ CẤU DÂN SỐ :

Phân tích cơ cấu dân số, tức là phân tích mặt chất lượng của dân số. Ði đôi với việc giảm tỷ lệ tăng tự nhiên, những năm qua chất lượng dân số thành phố cũng có những thay đổi đáng kể. Sau đây là những nhận xét rút ra về mặt cơ cấu dân số từ kết quả Tổng điều tra.

2.1. Phân bố dân cư theo lãnh thổ:

Số dân thành thị tăng nhanh, số dân nông thôn giảm. Do việc thành lập 5 quận mới và quá trình đô thị hóa nhanh, số dân thành thị sau 10 năm tăng 43% (1258 ngàn người). Ngược lại số dân nông thôn giảm 20,6% (-209 ngàn người). Tỷ lệ dân thành thị đã tăng từ 73,8% năm 1989 lên 83,5% năm 1999. Nếu năm 1989 chỉ có 12 quận, 182 phường và 2 thị trấn; thì năm 1999 có  17 quận, 238 phường và 4 thị trấn.

Do quá trình đô thị hóa, qui hoạch, chỉnh trang lại thành phố, nhiều khu nhà ổ chuột ở nội thành được giải tỏa, đặc biệt là dọc theo kênh Nhiêu Lộc, Thị Nghè; ở ngoại thành có 12 khu công nghiệp và nhiều khu dân cư mới ủuợc xây dựng. Dân cư thành phố từng bước được phân bố lại theo sự điều phối chủ động của chính quyền, đồng thời có sự di cư tự phát của người dân từ tỉnh khác đến. Dân số khu vực Trung tâm, nội thành và ngoại vi xa có xu hướng giảm hoặc tăng chậm; ngược lại dân vùng ven tăng khá nhanh.

So với năm 1989 có 3 quận dân số giảm từ 4%-12% (Quận 1, Quận 3, Quận 5); có 5 quận, huyện dân số tăng không đáng kể, dưới 10% (quận 4, Quận 10, Quận 11, Phú Nhuận, Nhà Bè), có 8 đơn vị dân số tăng từ 10% đến 40% (Quận 2, Quận 6, Quận 8, Quận 9, Bình Thạnh, Củ Chi, Hốc Môn và Cần Giờ). Ðặc biệt có 6 quận, huyện số dân tăng trên 60% (Quận 7, Quận 12, Gò Vấp, Tân Bình, Thủ Ðức và Bình Chánh).

Việc thay đổi chỗ ở của người dân thành phố diễn ra nhiều hơn thời kỳ trước. Trong vòng 5 năm (1994-1999) đã có 18,9% số người chuyển nơi cư trú. Trong đó 0,1% từ nước ngoài đến, 8,9% từ tỉnh khác đến, 6,5% từ quận, huyện khác đến và 3,4% từ xã, phường khác cùng quận, huyện chuyển đến. Các tỷ lệ tương ứng của 5 năm 1984-1989 là : 9,6%, 0,1%, 3,6%, 3,1% và 2,8%.

Trên phạm vi toàn thành phố, mật độ dân cư trên một Km2 tăng đáng kể qua các năm. Nếu năm 1979 chỉ có 1633 người, đến năm 1989 tăng lên 1905 người và năm 1999 là 2406 người. Mật độ dân cư phân bổ không đều giữa các quận, huyện. Có 5 quận mật độ cao trên 40 ngàn dân một Km2, 3 quận mật độ  từ 20 ngàn đến 40 ngàn người; 4 quận mật độ từ 10 ngàn đến dưới 20 ngàn người; 7 quận, huyện mật độ dưới 10 ngàn và trên 1 ngàn người; và 3 huyện có mật độ dưới 1000 người/Km2 . Quận 5 có mật độ đông nhất, 51.131 người và Cần Giờ có mật độ dân thấp nhất, 82 người/Km2, chênh nhau 623 lần.

2.2. Giới tính và độ tuổi:

* Ðặc trưng cho giới tính của dân số đó là tỷ lệ giới tính. Tỷ lệ giới tính (số nam trên 100 nữ) của người dân thành phố có sự thay đổi qua 3 cuộc điều tra. Năm 1979 chỉ có 90,2  nam, năm 1989 có 90,1 nam và năm 1999 tăng lên  gần 93 nam trên 100 nữ. Do hậu quả của các cuộc chiến tranh, nên Việt Nam là một quốc gia có tỷ lệ giới tính (96,7) thấp của Châu á, chỉ cao hơn một ít so với Campuchia (94). Trong đó thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có tỷ lệ giới tính thuộc loại thấp nhất của cả nước (chỉ cao hơn Thái Bình: 91,6%). Tỷ lệ giới tính các quận (92) thấp hơn các huyện (96,4), thành thị (92) thấp hơn nông thôn (97). Thấp nhất là Quận 1, Quận 3, Quận 5... Cao nhất là Quận 9, Bình Chánh và Nhà Bè...

Tỷ lệ giới tính của người xuất cư (130) cao hơn người nhập cư (85). Sau đây là tỷ lệ giới tính của một số dân tộc cư ngụ tại địa bàn thành phố qua 3 cuộc Tổng điều tra dân số. Tỷ lệ đó tuy khác nhau, nhưng nhìn chung có xu hướng tăng dần:

 

 

1979

1989

1999

Kinh

82,9

87,1

92,3

Hoa

91,7

94,7

98,4

Khơme

98,8

100,5

93,2

Chăm

99,5

102,3

103,4

Tày

115,4

97,3

102,3

Thái

87,0

94,7

91,2

 

Tỷ lệ giới tính nhóm trẻ sơ sinh ở thành phố năm 1979 là 104,1%, năm 1989:  106,9 và năm 1999 là 106,6 (cả nước 107 và mức phổ biến của thế giới là 105). Do mức tử vong của nam cao hơn nữ, nên tỷ lệ giới tính giảm dần qua các độ tuổi. Cân bằng ở tuổi 15-16 và dưới 100 ở các tuổi từ 17 trở lên. Cụ thể tỷ lệ giới tính ở nhóm tuổi 30-34 là 94,9, 50-54 là 74,6, 70-74: 70,6, 80-84: 47,1, 90-94: 31,9 và từ 100 tuổi trở lên là 23,9...

Cơ cấu dân số theo tuổi đã có sự chuyển biến đáng kể. Nhờ giảm được tỷ lệ sinh, nên cơ cấu các nhóm tuổi chuyển biến theo chiều hướng hợp lý hơn. Tháp tuổi chia ra 3 phần rõ rệt : Ðáy tháp tóp lại ở độ tuổi dưới 25, sinh sau năm 1975, đặc biệt là ở độ tuổi  sinh sau 1980 (dưới 20 tuổi) giai ủoạn có tỷ suất sinh giảm mạnh. Thân tháp phình ra ở độ tuổi 25-44, sinh trong giai ủoạn sau năm 1954 đến trước năm 1975, thời kỳ có tỷ suất sinh cao nhất trong gần một thế kỹ qua. Tháp tuổi đột ngột co lại ở độ tuổi 45-49 và nhỏ dần ở các nhóm tuổi lớn hơn, những nhóm tuổi sinh ra trước năm 1954 và lớn lên khi đất nước có 2 cuộc chiến tranh.

So với kết quả của 2 cuộc điều tra trước: Số người dưới 20 tuổi giảm nhiều (từ 51,8% năm 1979, xuống còn 42,8% năm 1989 và 33,8% năm 1999). Ngược lại tỷ lệ những người từ 20 trở lên tăng dần (năm 1979: 48,2%, năm 1989: 57,2% và năm 1999: 66,2%):

 

Nhóm tuổi

1979

1989

1999

Nam

Nữ

0-9 tuổi

25,5

20,3

15,5

16,6

14,4

10-19

26,3

22,5

18,3

18,9

17,7

20-29

18,9

21,1

22,4

22,7

22,0