|
|
Một số khái niệm trong tổng điều tra Dân số và Nhà ở Thời điểm 1-4-1999 |
1. Hộ gia đình
Hộ gia đình bao gồm một hay một nhóm người ở chung và ăn chung. Những người nầy có thể có hoặc không có quỹ thu, chi chung; có thể có hoặc không có mối quan hệ ruột thịt.
Trong một nhà hay một căn hộ có thể có một hoặc nhiều hộ, mỗi hộ được coi là một đơn vị điều tra.
2. Chủ hộ
Là người đại diện cho hộ, được các thành viên trong hộ thừa nhận.
3. Nhân khẩu thực tế thường trú
Nhân khẩu thực tế thường trú tại hộ là những người thực tế vẫn thường xuyên ăn, ở tại hộ hoặc mới chuyển đến ở ổn định tại hộ, không phân biệt những người nầy đã được đăng ký hộ khẩu thường trú hay chưa.
Những người thuộc diện sau đây được coi là nhân khẩu thực tế thường trú tại hộ:
- Những người sống ở hộ từ 6 tháng trở lên.
- Những người mới đến hộ nhưng có ý định sống lâu dài ở hộ
- Những người thường xuyên sống ở hộ nhưng hiện tạm vắng.
- Những người sống lang thang cơ nhỡ vào ngày điều tra đang ở nơi nào thì được tính vào nhân khẩu thực tế thường trú ở nơi đó.
4. Dân tộc
Người được điều tra thuộc dân tộc nào thì khai rõ tên gọi của dân tộc đó. Con ruột hay con nuôi của hai vợ chồng có dân tộc khác nhau, nếu chưa đủ 18 tuổi thì cha mẹ sẽ thỏa thuận kê khai dân tộc cho con theo dân tộc của cha hoặc mẹ, nếu người con đã đủ 18 tuổi trở lên thì do người con đó tự xác định dân tộc cho mình theo dân tộc gốc của cha hoặc mẹ.
Những người nước ngoài đã nhập quốc tịch Việt Nam thì qui ước ghi tên quốc tịch gốc của họ.
5. Tôn giáo
Người được điều tra tự khai mình có theo đạo hay không, nếu theo tôn giáo nào thì khai rõ tên tôn giáo đó.
6. Tình trạng hôn nhân
Tình trạng hôn nhân được xác định theo lời khai của từng người.
- Chưa vợ, chưa chồng: là những người chưa bao giờ lấy vợ hay lấy chồng.
- Có vợ, có chồng: là những người đã được luật pháp hoặc phong tục, tập quán của địa phương thừa nhận là đang có vợ (hoặc có chồng), hoặc đang chung sống với người khác giới như vợ chồng.
- Góa: là những người mà vợ (hoặc chồng) của họ đã bị chết và hiện tại người đó chưa tái kết hôn.
- Ly hôn: là những người trước đây đã có vợ, chồng nhưng vì lý do nào đó họ đã được pháp luật cho ly hôn và hiện tại họ chưa tái kết hôn.
- Ly thân: là những người về danh nghĩa thì họ đang có vợ, chồng, nhưng vì lý do nào đó hiện tại họ không sống với nhau như vợ, chồng.
7. Biết đọc, biết viết
Là người biết đọc, biết viết và hiểu được những câu đơn giản bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác.
8. Tình hình đi học
Tình hình đi học được xác định khi người được điều tra có theo học ở một cơ sở giáo dục phổ thông hoặc chuyên nghiệp (từ bậc cao đẳng trở lên) được nhà nước công nhận như các trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường phổ thông trung học và các trường chuyên nghiệp từ bậc cao đẳng trở lên thuộc hệ thống trường công lập, bán công, dân lập, hoặc các trường lớp tương đương như các hình thức đào tạo chuyên tu, tại chức,... để nhận được sự truyền đạt kiến thức văn hóa phổ thông hoặc kỹ thuật nghiệp vụ một cách có hệ thống trong một khoảng thời gian xác định.
9. Trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nhất đạt được
- Không có trình độ chuyên môn kỹ thuật và không có bằng, chứng chỉ về chuyên môn kỹ thuật: Những người chỉ làm được những công việc đơn giản (lao động phổ thông), hoặc những công việc đòi hỏi có kỹ thuật nghiệp vụ chuyên môn nhưng không có một bằng hay chứng chỉ nào về chuyên môn kỹ thuật.
- Công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ có bằng: Những người có bằng, chứng chỉ tốt nghiệp ở các trường lớp dạy nghề hoặc các trường lớp chuyên môn, kỹ thuật nghiệp vụ dưới trình độ trung học chuyên nghiệp, không phân biệt bậc thợ được đào tạo cao hay thấp, thời gian đào tạo dài hay ngắn.
- Trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học là những người đã tốt nghiệp và được cấp bằng, chứng chỉ tốt nghiệp.
- Thạc sĩ, phó tiến sĩ, tiến sĩ là những người đã được cấp học vị thạc sĩ, phó tiến sĩ, tiến sĩ.
10. Tình trạng làm việc
- Ðang làm việc: Những người có thời gian làm việc để tạo ra thu nhập chiếm nhiều thời gian nhất trong các công việc mà người đó tham gia trong 12 tháng trước thời điểm điều tra.
- Nội trợ: Người có thời gian làm các công việc nội trợ (như nấu ăn, giặt giũ ...) trong gia đình chiếm nhiều thời gian nhất trong các loại công việc mà người đó tham gia trong 12 tháng trước thời điểm điều tra.
- Ði học: Những người có thời gian đi học tại các trường phổ thông hoặc các trường chuyên nghiệp, dạy nghề chiếm nhiều thời gian nhất trong các công việc mà người đó tham gia trong 12 tháng trước thời điểm điều tra.
- Mất khả năng lao động: Những người không làm được bất cứ công việc gì để tự nuôi sống mình (vì điều kiện sức khỏe, ốm đau, tàn tật ...) chiếm nhiều thời gian nhất trong các loại công việc mà người đó tham gia trong 12 tháng trước thời điểm điều tra.
- Không làm việc: Những người có khả năng lao động nhưng không làm bất cứ một công việc gì chiếm nhiều thời gian nhất trong các loại công việc mà người đó tham gia trong 12 tháng trước thời điểm điều tra.
11. Công việc chính
Là công việc chiếm nhiều thời gian nhất trong tổng số thời gian làm các công việc để có thu nhập của một người trong 12 tháng trước thời điểm điều tra.
12. Dân số thành thị và nông thôn
Trong tổng điều tra dân số 1999, khu vực thành thị của thành phố bao gồm 18 quận nội thành và 4 thị trấn của 4 huyện Củ Chi, Bình Chánh, Hốc Môn, Nhà Bè.
Các thị trấn được tính vào khu vực thành thị (theo quy định tạm thời dùng cho TÐTDS 1989) phải đạt các tiêu chuẩn:
- Dân số từ 2000 người trở lên
- Dân số phi nông nghiệp chiếm từ 50% trở lên
- Là trung tâm hành chính hoặc công nghiệp của huyện.









