Dân số TP. HCM (01-04-1999)

Hệ biểu tổng hợp ĐTDS 1999

Kết quả điều tra vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 2000

Thành phố Hồ Chí Minh 25 năm

Nông thôn, nông nghiệp và thủy sản TP. HCM 2001

Thực trạng doanh nghiệp 2000 (1/4/2001)

Ấn phẩm Đại hội Đảng lần VII

Tổng điều tra cơ sở kinh tế và hành chính sự nghiệp thành phố Hồ Chí Minh năm 2002

Tăng trưởng và hiệu quả kinh tế (thành phố Hồ Chí Minh 1995-2003)

30 năm Thành phố Hồ Chí Minh - Số liệu Thống kê chủ yếu

Dân số TP.Hồ Chí Minh qua 2 cuộc Tổng điều tra 1999 - 2004

Điều tra dân số giữa kỳ 2004 TP.HCM


Ðể có thêm cơ sở đánh giá tình hình kinh tế- xã hội thành phố Hồ Chí Minh 5 năm qua (1996-2000), Cục Thống kê xin cung cấp một số tư liệu, mong được các đồng chí tham khảo.

A- NHỮNG KẾT QUẢ ÐẠT ÐƯỢC :

1- Kinh tế Thành phố đã có bước tăng trưởng đáng kể :
Mặc dầu bị tác động rất lớn và trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, tổng sản phẩm trên địa bàn thành phố (GDP) vẫn giữ được tốc độ tăng 10,2% một năm, bằng 1,5 lần tốc độ tăng của cả nước; chỉ thấp hơn tốc độ của 5 năm trước đó (1991-1995), nhưng cao hơn tất cả các nhiệm kỳ từ 1976 đến 1990. Kinh tế thành phố tuy tăng có chậm lại trong hơn 3 năm, từ năm 1996 đến đầu quí 3 năm 1999, nhưng từ cuối quí 3 năm 1999 đã có dấu hiệu tích cực. Các hoạt động công nghiệp, xuất nhập khẩu liên tiếp quí sau cao hơn quí trước. Tốc độ tăng GDP năm 2000 đã bằng năm 1998 và gấp 1,5 lần tốc độ tăng của năm trước. So với năm 1990 thì GDP năm 1995 bằng 1,8 lần và năm 2000 bằng 2,9 lần. Lượng tuyệt đối 1% tăng lên của năm 2000 bằng 1,6% tăng lên của năm 1995 và 2,94% tăng lên của năm 1990. Do vậy 5 năm qua (1996-2000) mặc dầu tốc độ tăng GDP (10,2%) có chậm hơn 5 năm trước đó (12,62%), nhưng lượng tăng tuyệt đối vẫn gấp gần 1,4 lần. GDP bình quân đầu người, đã tăng từ 937 USD năm 1995 lên 1.365 USD năm 2000.
Do kinh tế thành phố luôn có tốc độ tăng trưởng cao hơn cả nước nên vị trí của thành phố so cả nước cũng được nâng cao (%) :

 

1990

1995

2000

Tổng sản phẩm nội địa (GDP)

13,7

16,7

19,3

Giá trị sản xuất công nghiệp

26,2

28,6

29,4

GDP các ngành dịch vụ

20,1

22,1

25,1

Kim ngạch xuất khẩu

32,6

47,7

42,1

Tổng mức bán lẻ và dịch vụ

23,4

28,7

26,7

Tổng thu ngân sách trên địa bàn

22,7

27,1

31,6


Do thành phố chiếm tỷ trọng lớn trong nhiều ngành kinh tế, lại có tốc độ tăng cao, nên đóng góp của thành phố vào sự tăng trưởng chung cả nước trong 5 năm 1995 - 2000 có vị trí đặc biệt quan trọng : 26% GDP, 31% giá trị sản xuất công nghiệp, 34% giá trị các ngành dịch vụ, 49% kim ngạch xuất khẩu, 28% tổng mức hàng hóa bán lẻ và dịch vụ v.v...
Thành phố Hồ Chí Minh thường chiếm trên 35% tổng thu ngân sách của 61 tỉnh, thành. Nếu chỉ tính phần chênh lệch thực nộp cho ngân sách trung ương, thì thành phố Hồ Chí Minh thường chiếm trên 50%, thậm chí có năm lên đến 68% tổng thực thu của cả nước. Ðiều đó nói lên thành quả phát triển kinh tế và vị trí cực kỳ quan trọng của thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang thực sự là một trung tâm kinh tế, trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, tài chính, khoa học kỹ thuật ... là đầu mối giao thông của khu vực và cả nước.
Sản xuất công nghiệp giữ được tốc độ tăng trưởng cao, bình quân 14,2% một năm. Trong đó quốc doanh tăng 10,3%, dân doanh 13,4% và có vốn đầu tư nước ngoài tăng 26,3% năm. Giá trị sản lượng công nghiệp năm 2000 đã gần bằng 2 lần năm 1995 và hơn 4 lần năm 1990. Hai khu chế xuất Tân Thuận và Linh Trung có 152 dự án nước ngoài, tạo việc làm cho gần 60 ngàn lao động, năm 2000 xuất khẩu trên 700 triệu USD sản phẩm, giữ ổn định sản xuất, tạo mối quan hệ hợp tác gia công và tiêu thụ sản phẩm công nghiệp với các doanh nghiệp nội địa.
Nhiều sản phẩm công nghiệp thành phố được người tiêu dùng cả nước bình chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao và chiếm tỷ trọng lớn trong sản lượng cả nước, như sữa hộp 72%, thuốc lá 58%, xà phòng 52%, vãi lụa 51%, bia 41%, quần áo may sẵn 31% v.v...
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản 5 năm (1996-2000), đạt trên 104 ngàn tỷ đồng. Trong đó vốn ngân sách trên 8 ngàn tỷ (7,7%) và vốn đầu tư nước ngoài gần 3,5 ngàn tỷ đồng (33,6%). Tỷ lệ vốn đầu tư so GDP 5 năm là 34,14%, hệ số icor bình quân 3,34 lần. Ngoài việc ngăn chặn sự xuống cấp của hạ tầng, nhiều cơ sở mới được xây dựng. Hàng năm gần 40% vốn đầu tư được ưu tiên cho công nghiệp; 14,3% cho vận tải, bưu chính viễn thông; 10,3% cho phục vụ cá nhân và cộng đồng; 8,7% cho thương mại, khách sạn nhà hàng và 3,1% cho y tế, giáo dục, đào tạo v.v... Ðã nâng cấp, làm mới 500 km đường giao thông nông thôn 27 cầu, 34 km đường Nhà Bè - Cần Thạnh, xây mới 18 km đường Nam Bình Chánh - Bắc Nhà Bè, cải tạo mở rộng 15 nút giao thông ... Bộ mặt thành phố khang trang và đẹp hơn. Nhiều chương trình nhà ở được thực hiện; mỗi năm xây mới trên 3 triệu mét vuông, gấp 1,5 lần 5 năm trước đó.
Trong 5 năm có 467 dự án đầu tư nước ngoài đuợc cấp phép còn hiệu lực với tổng vốn 3.726 triệu USD. Số dự án nhiều hơn 5 năm trước (1991-1995) 17,6%, nhưng qui mô dự án nhỏ hơn, nên tổng vốn đầu tư ít hơn 39,5%.
Sản lượng vận tải năm 2000 đạt 26.141 ngàn tấn và 201 triệu lượt hành khách, bình quân mỗi năm tăng 9,4%. Cơ sở sân bay và bến cảng được mở rộng. Chiều dài cầu cảng 5.340 mét, năng lực bốc dỡ 35 triệu tấn một năm.
Hoạt động bưu chính, viễn thông có bước tiến dài. Cơ sở kỹ thuật khá hiện đại, phục vụ đắc lực cho sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của người dân. Dung lượng tổng đài điện thoại 780 ngàn số với 563 ngàn máy điện thoại cố định, 149 ngàn máy di động, 80 ngàn máy nhắn tin và 11.579 máy fax v.v....
Quan hệ kinh tế đối ngoại được mở rộng. Thành phố có quan hệ ngoại thương với trên 40 quốc gia và lãnh thổ. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 5 năm đạt trên 40,6 tỷ USD, trong đó xuất khẩu 21,9 tỷ và nhập khẩu 18,7 tỷ USD. Từ năm 1998 xuất khẩu đã nhiều hơn nhập khẩu. Bình quân một năm kim ngạch xuất khẩu tăng 17,8% và nhập khẩu tăng 5,2%. Cơ cấu xuất khẩu đã có sự chuyển dịch đáng kể. Nếu năm 1996 trên 34,7% kim ngạch xuất là hàng nông sản thô, hàng lâm sản và hải sản chế biến, tức là những hàng hóa có gốc từ ngoài thành phố, thì năm 2000 tỷ lệ đó chỉ còn 9,4%, ngược lại hàng công nghiệp đã tăng từ 65,3% lên 90,6%, do chính lao động thành phố làm ra. Thị trường xuất khẩu từ chủ yếu (trên 70%) là Ðông Bắc Á và Ðông Nam Á, nay đã mở rộng sang thị trường EU, Mỹ và một số nước khác và nâng tỷ trọng của thị trường mới này lên trên 51%.
Tổng mức hàng hóa bán ra năm 2000 ước 142.576 tỷ đồng, trong đó bán lẻ 57.489 ngàn tỷ. Tỷ trọng bán lẻ trong tổng mức tăng dần, năm 1990: 33,1%, năm 1995: 38,3% và năm 2000: 40,3%. Tỷ trọng thương mại quốc doanh giảm rõ rệt, ngược lại tỷ trọng các thành phần khác tăng lên trong cả tổng mức hàng hóa, dịch vụ bán ra và bán lẻ (%) :

 

1990

1995

2000

Tỷ trọng quốc doanh trong tổng mức

78,1

42,5

35,3

Tỷ trọng quốc doanh trong bán lẻ

49,6

21,3

17,9

Tỷ trọng các thành phần khác trong tổng mức

21,9

57,5

64,7

Tỷ trọng các thành phần  khác trong bán lẻ                                 

50,4

78,7

82,1


Sự ra đời của hệ thống siêu thị và trung tâm thương mại lớn đã làm thay đổi hẳn bộ mặt thương mại thành phố. Hàng Việt Nam chất lượng cao đã chiếm tỷ lệ lớn trên thị trường, và trên 70% ở các siêu thị.
Lượng khách du lịch đột ngột giảm mạnh trong 2 năm 1997-1998, nhưng từ năm 1999 đã có nhiều dấu hiệu tích cực, cả khách quốc tế và nội địa đều tăng. Bình quân mỗi năm có trên 550 ngàn khách quốc tế và 620 ngàn khách nội địa đến thành phố. Riêng năm 2000 có 1.500 ngàn lượt khách, trong đó 740 ngàn lượt khách quốc tế đến thành phố. Các tour du lịch ngày càng đa dạng và nhiều tuyến, đặc biệt du lịch sinh thái và số khách Việt Nam đi nước ngoài ngày càng nhiều, tăng mạnh trong 2 năm 1999 và 2000.
Lạm phát được kiềm chế và đẩy lùi, vài năm gần đây đang có xu hướng thiểu phát. Nếu lấy giá tháng cuối năm so với tháng 12 năm trước, ta có :

 

1990

1995

2000

Chỉ số giá tiêu dùng

151,5

112,9

103,0

Chỉ số giá vàng

139,1

98,1

  99,0

Chỉ số giá USD

150,4

99,6

103,8


Hoạt động tài chính, tín dụng có nhiều tiến bộ. Bình quân mỗi năm vốn huy động tăng 19%, doanh số cho vay tăng 11% và dư nợ tín dụng tăng 23,7%, trong đó dư nợ trung dài hạn tăng 47,5%. Hệ thống ngân hàng được tổ chức, sắp xếp lại. Các qui định về quản lý rủi ro được ban hành. Việc ra đời Trung tâm giao dịch chứng khoán ở Thành phố Hồ Chí Minh là một bước phát triển quan trọng của thị trường vốn.
Về tài chính, tỷ lệ tích lũy so GDP có xu hướng tăng dần. Tính chung trong 5 năm là 32,3%. Tỷ lệ này cao hơn cả nước. Tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách dao động từ 25% đến 30% và là địa phương có tỷ lệ huy động cao nhất nước. Tỷ lệ chi ngân sách địa phương so tổng thu ngân sách trên địa bàn bình quân 5 năm là 16,45%. Nếu chỉ so với thu nội địa thì tỷ lệ đó là 27,81%. Nói cách khác thành phố đã giành đến 83,55% tổng thu ngân sách trên địa bàn để đóng góp ngân sách quốc gia.
2- Cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng tích cực. Cơ cấu kinh tế thành phố có sự thay đổi đáng kể cả về cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần và cơ cấu vùng. Về cơ cấu ngành (khu vực) %:

 

1990

1995

2000

Nông lâm thủy sản

5,0

3,3

2,2

Công nghiệp, xây dựng

32,9

38,9

44,6

Các ngành dịch vụ

62,1

57,8

53,2


Các ngành thương mại dịch vụ, tuy tiếp tục chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu GDP, nhưng đang có xu hướng giảm dần, bình quân mỗi năm giảm gần 1%. Hoạt động dịch vụ phát triển đa dạng theo hướng hiện đại. Các dịch vụ vận tải bưu chính viễn thông, tài chính tín dụng, khoa học công nghệ và tư vấn tăng nhanh.
Các ngành công nghiệp, xây dựng do vẫn giữ được tốc độ cao, nên tỷ trọng trong GDP tiếp tục tăng từ 32,9% năm 1990 lên 38,9% năm 1995 và 44,6% năm 2000. Trong công nghiệp bước đầu có chú ý phát triển các ngành công nghiệp sạch; nâng dần tỷ trọng những ngành có hàm lượng công nghệ - kỹ thuật cao, đồng thời coi trọng phát triển các ngành truyền thống sử dụng nhiều lao động (dệt, may, tiểu thủ công), các ngành sử dụng nguyên liệu nội địa, thu hồi vốn nhanh v.v..
Ngành lâm nghiệp chuyển từ khai thác và trồng rừng kinh tế sang trồng rừng sinh thái là chính. Tỷ trọng ngành thủy sản trong khu vực I đã?tăng từ 11,9% năm 1995 lên 17% năm 2000. Sản lượng đánh bắt ngày càng nhiều hơn nuôi trồng. Trong 3 năm gần đây đánh bắt xa bờ được chú ý phát triển. Trong nông nghiệp chăn nuôi tăng nhanh hơn trồng trọt. Cơ cấu chăn nuôi đã tăng từ 34,7% lên 39,7%. Cây ăn trái, cây cảnh, cây con giống, bò sữa và gà công nghiệp tăng nhanh hơn các loại khác.
Cơ cấu các thành phần kinh tế trong GDP cũng có sự thay đổi đáng kể. Khu vực đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng ngày càng lớn; ngược lại tỷ trọng trong khu vực quốc doanh và ngoài quốc doanh ngày càng giảm, mặc dầu giá trị sản lượng vẫn tăng (%) :

 

1990

1995

2000

Kinh tế quốc doanh

55,8

48,9

45,9

Ngoài quốc doanh

42,9

40,0

35,5

Có vốn nước ngoài

    1,3

11,1

18,6


Sự đóng góp vào tăng trưởng GDP thành phố của các ngành và các thành phần cũng tùy thuộc vào sự chuyển dịch cơ cấu. Nếu tổng giá trị tăng trưởng GDP là 100% thì sự đóng góp của các ngành và các thành phần vào sự tăng trưởng đó trong 2 giai đoạn 1991-1995 và 1996-2000 như sau (%) :

 

1991 - 1995

1996 - 2000

Tổng số

100,00

100,00

* Nông lâm thủy sản

    1,26

   0,33

Công nghiệp, xây dựng

 45,40

 53,04

Các ngành dịch vụ

 53,34

 46,63

* Quốc doanh

 41,58

 40,46

Ngoài quốc doanh

 35,46

 28,83

Có vốn nước ngoài

 22,96

 30,71


3/ Các hoạt động xã hội có những tiến triển quan trọng. Ðời sống người dân được cải thiện : Các hoạt động khoa học và công nghệ có bước phát triển. Nhiều kết quả nghiên cứu được ứng dụng và bước đầu có kết quả trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, khoa học xã hội và quản lý nhà nước v.v...
Các hoạt động văn hóa, nghệ thuật có nhiều cố gắng. Các hoạt động văn hóa quần chúng và phong trào "toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" được mở rộng. Tổ chức tốt các ngày lễ lớn. Số người luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên ngày một nhiều.
Trình độ học vấn của người dân được nâng cao, nếu năm 1989 là 6,80 thì năm 1999 đã nâng lên 7,56 (tính cho người từ 10 tuổi trở lên). Giáo dục, đào tạo tăng về qui mô và có tiến bộ về chất lượng. Năm 2000 so năm 1995 số học sinh mẫu giáo tăng 22%; học sinh phổ thông tăng 10,2%, trong đó học sinh cấp 3 tăng 66% ; số học sinh tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp tăng 145% và tốt nghiệp cao đẳng, đại học tăng 259%. Tỷ lệ học sinh lưu ban và bỏ học giảm đáng kể. Toàn thành phố đã phổ cập giáo dục tiểu học 301/303 phường xã, trong đó có 240 phường xã phổ cập tiểu học đúng độ tuổi; có 13 quận huyện phổ cập giáo dục trung học cơ sở . Công tác xã hội hóa được mở rộng, đến nay ở cấp thành phố đã có 54 trường dân lập với 21,2 ngàn học sinh. Trên địa bàn thành phố có 17 trường đại học, cao đẳng, 22 trường trung học chuyên nghiệp và 185 cơ sở dạy nghề, năm 2000 cho ra trường 46 ngàn kỹ sư, cử nhân, 17 ngàn tốt nghiệp trung học và 150 ngàn thợ có tay nghề.
Hoạt động y tế có nhiều tiến bộ. Sau 5 năm số giường bệnh tăng 9,6%; số bác sĩ, nha sĩ tăng 20,2%; 100% xã phường đã có trạm y tế. Mạng lưới y tế tư nhân mở rộng với 8.582 cơ sở, trong đó có 4 bệnh viện, 14 phòng khám đa khoa, 4.101 phòng mạch và 2.282 nhà thuốc, đại lý thuốc ... Một số bệnh viện được trang bị khá hiện đại. Năm 2000 khám bệnh cho 18 triệu lượt người và hơn 700 ngàn người được điều trị nội trú ở các cơ sở y tế Nhà nước. Các chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu, chương trình y tế cho người nghèo đạt kết quả tốt. Từ tuyến cơ sở phường xã đến bệnh viện cấp thành phố đều có giường miễn phí cho người nghèo. Hội bảo trợ bệnh nhân nghèo đã chữa bệnh miễn phí cho trên 600 ngàn người; thực hiện gần 31 ngàn ca giải phẫu ghép thủy tinh thể nhân tạo và trên 9 ngàn ca giải phẩu vá môi hở hàm ếch.
Công tác kế hoạch hóa gia đình có nhiều kết quả. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đã giảm từ 14,83%o năm 1995 xuống còn 13,5%o năm 2000. Mỗi năm giảm gần 0,3%o. Ðời sống người dân được cải thiện. GDP bình quân đầu người tính theo giá FOB đã tăng từ 937 USD năm 1995 lên 1.365 USD năm 2000 (Nếu tính theo tỷ giá giao dịch của ngân hàng tăng từ 727 USD lên 1.048 USD; theo sức mua tương đương tăng từ 5.039 USD lên 7.331 USD). Bình quân mỗi năm giảm được 2% hộ nghèo; đưa tỷ lệ hộ nghèo đói của thành phố từ 25% năm 1992 đến cuối năm 1995 xóa xong hộ đói và đến nay chỉ còn 9,5% hộ nghèo. Mức chi tiêu cho đời sống một người dân tăng bình quân 6,8% một năm. Cơ cấu dân cư theo mức sống có sự thay đổi đáng kể. Tỷ lệ số hộ có mức sống thấp giảm, ngược lại số hộ có mức sống trung bình và khá tăng lên (%) :

 

1990

1995

2000

Mức sống khó khăn

46,3

40,3

37,1

Mức sống trung bình

33,4

35,1

37,4

Mức sống khá

20,3

24,6

25,5


Mức chi tiêu cho đời sống bình quân một người một tháng từ 356 ngàn đồng (năm 1995) tăng lên 539 ngàn đồng (năm 2000). Số hộ có tiện nghi sinh hoạt đắt tiền ngày càng nhiều. Ðến năm 2000 đã có 88,5% hộ gia đình có máy thu hình, 43,1% hộ có tủ lạnh, 7,4% hộ có máy điều hòa, 39,4% hộ có bếp ga, 33,4% hộ có điện thoại và 77% hộ có xe gắn máy v.v...
4/ An ninh chính trị được giữ vững. Hệ thống chính trị được củng cố: Trên cơ sở kinh tế tiếp tục phát triển, đời sống người dân được cải thiện, các vấn đề xã hội được giải quyết tốt và sự nổ lực của các cơ quan chức năng, nền an ninh chính trị được giữ vững. Tổ chức Ðảng được phát triển và củng cố. Mỗi năm có thêm trên 3 ngàn Ðảng viên được kết nạp. Tỷ lệ Ðảng viên là công nhân lao động, là người có trình độ chuyên môn trung học, đại học và có trình độ lý luận trung cao cấp ngày một nhiều (%) :

 

1996

1998

1999

2000

Ðảng viên là công nhân

15,6

18,1

18,6

19,2

Văn hoá cấp 3

36,5

36,8

37,3

36,6

Trung học chuyên nghiệp

  7,6

  8,0

8,1

8,4

Cao đẳng, đại học

29,4

30,8

31,5

32,1

Trên đại học

  1,2

 1,4

1,4

1,6

Cao cấp chính trị

  6,9

 8,3

8,8

8,9

Trung cấp chính trị

35,1

36,4

36,4

35,8


Khối đại đoàn kết toàn dân được giữ vững và phát triển. Tổ chức bộ máy và thể chế của hệ thống chính trị được củng cố, điều chỉnh. Công tác qui hoạch và đào tạo cán bộ được chú ý và bước đầu đạt kết quả.

II- NHỮNG YẾU KÉM VÀ TỒN TẠI :

Khó khăn và yếu kém còn nhiều. Ở đây chỉ xin nêu một số điểm lớn :
1/ Tiềm lực kinh tế còn non yếu. Hạ tầng kỹ thuật và trình độ công nghệ còn lạc hậu: Cơ sở hạ tầng hiện có chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển. Ðường xá, cầu cống, bến cảng, sân bay thiếu về lượng và kém về chất.Trong các doanh nghiệp, thiết bị máy móc đã ít về số lượng lại lạc hậu về công nghệ, phần lớn thuộc thế hệ củ, chắp vá. Ở các đơn vị công nghiệp giá trị còn lại của tài sản cố định chưa đến 60% riêng doanh nghiệp nhà nước tỷ lệ này là 48%. Nếu tính cả hao mòn vô hình tỷ lệ đó còn thấp hơn. Thời gian đã sử dụng bình quân chung của máy móc, thiết bị là 12 năm. Ðáng chú ý có trên 18% đã sử dụng 10-15 năm và trên 17% đã sử dụng trên 15 năm. Về trình độ kỹ thuật chỉ có 1,4% tự động, 36% bán tự động, 21% cơ khí, 29% bán cơ khí và 12,6% ở trình độ thủ công. Về trình độ công nghệ, chỉ có 14% tiên tiến, 50,5% trung bình và 35,5% là lạc hậu.
Ðầu tư đổi mới công nghệ chậm. Hệ số icor thấp, nhưng độ trễ lại lớn; sự thất thoát trong đầu tư còn nhiều; cơ cấu đầu tư chưa hợp lý; hiệu quả đầu tư thấp; thâm dụng lao động vẫn là chủ yếu.
2/ Hiệu quả đầu tư thấp. Hàng hóa và dịch vụ thiếu sức cạnh tranh : Hiệu quả nói ở đây gồm cả góc độ doanh nghiệp và góc độ xã hội. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trước hết là hiệu quả sử dụng đồng vốn. Ðến cuối năm 2000 tổng nguồn vốn sản xuất kinh doanh trên địa bàn gần 230 ngàn tỷ đồng (chưa tính các công trình công cộng, cầu đường, đất và một số vật kiến trúc ...) Trong đó vốn sở hữu chủ chỉ chiếm 45%. Tỷ lệ đó ở khu vực Nhà nước 31%, khu vực dân doanh 70% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 34%. Tính chung toàn nền kinh tế một đồng vốn một năm chưa tạo ra được 0,2 đồng lợi nhuận. Trong đó quốc doanh 0,18 đồng và dân doanh 0,23 đồng. Nếu trừ đi phần thuế đóng góp cho ngân sách, thì phần lợi nhuận còn lại trên một đồng vốn là 0,11. Trong đó quốc doanh 0,08 và dân doanh 0,17. Nếu là vốn đi vay thì lợi nhuận còn lại doanh nghiệp rất nhỏ. Hàng năm vẫn còn trên 20% số doanh nghiệp bị lỗ..
Ở góc độ xã hội, hiệu quả kinh tế được thể hiện ở tỷ lệ tích lũy và huy động GDP vào ngân sách. Tỷ lệ tích lũy ở thành phố giao động từ 25% đến 35%. Tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách từ 20% đến 25%.
Sức cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ yếu, thể hiện ở giá còn cao, nhiều sản phẩm giá cao hơn giá nhập khẩu 20 - 30%; chất lượng sản phẩm phổ biến là thấp, chưa kể là hàng gian, hàng giả. Chỉ số giá vật tư đầu vào cao hơn chỉ số giá sản phẩm đầu ra, người sản xuất phải chấp nhận giảm lãi, thậm chí bị lỗ.
3/ Cơ chế quản lý kinh tế chưa hoàn thiện và sự chậm trễ trong cải cách hành chính là yếu tố cản trở quá trình phát triển.
Chính phủ và chính quyền thành phố đã đặc biệt quan tâm tháo gỡ những trở ngại trong cơ chế, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh. Song nhiều vuớng mắc vẫn còn đó. Sức ì của các cơ quan quản lý vẫn còn rất lớn. Từ chủ trương đến thực hiện còn không ít cản ngại. Cái gốc của cơ chế và cải cách hành chánh là bộ máy Nhà nước và con người.
4/ Ðội ngũ cán bộ quản lý và tay nghề người lao động chưa theo kịp với nhu cầu phát triển: Nguyên nhân chính của những yếu kém và tồn tại trên đây là con người. Thiếu hụt những nhà quản lý giỏi, những chủ doanh nghiệp có tài và những người lao động thành thạo công việc.
Cho đến nay bộ máy quản lý vĩ mô vẫn rất cồng kềnh, nhiều tầng nấc. Ðây là mãnh đất nẩy sinh lối quản lý hành chính quan liêu, tham nhũng và là gánh nặng đối với các đơn vị kinh tế cơ sở. Ðiều đáng ngại là trong đội ngũ cán bộ này còn nhiều người thiếu hiểu biết cần thiết và thiếu đạo đức nghề nghiệp.
Thành phố có trên 2,3 triệu người đang làm việc. Trong đó có 370 ngàn người (16,6%) có bằng cấp, gồm 193 ngàn cao đẳng, đại học, trên đại học, 76 ngàn trung học chuyên nghiệp và 101 ngàn công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ. Nguồn nhân lực đó chiếm tỷ trọng lớn so với cả nước. Song so với yêu cầu hãy còn quá thiếu và yếu. Mất cân đối giữa các trình độ và yếu về chất lượng đào tạo. Mặt khác khâu quản lý, sử dụng còn quá nhiều bất hợp lý, chưa phát huy hết năng lực của đội ngũ này. Toàn thành phố vẫn còn 83,4% lao động không có bằng cấp. Tỷ lệ này ở khu vực Nhà nước 76,5%; ngành công nghiệp 89,2%, thương mại nhà hàng khách sạn 90,5% và nông lâm thủy sản 97,8% v.v...
Ở đội ngũ quản lý trực tiếp doanh nghiệp trình độ quản lý và chuyên môn rất hạn chế. Ngay ngành công nghiệp mặc dầu có trình độ cao hơn các ngành khác, nhưng vẫn còn 27% giám đốc chưa có bằng cấp chuyên môn, riêng khu vực dân doanh tỷ lệ này lên đến 37,7%. Ðiều đó rất tai hại khi họ điều hành cả doanh nghiệp và cũng là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự hoạt động kém hiệu quả của nhiều doanh nghiệp thời gian qua.
Do những yếu kém trên đây cùng với sự tác động trực tiếp từ cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, nên nhiệm kỳ vừa qua nhiều chỉ tiêu kinh tế của Ðại hội Ðại biểu Ðảng bộ thành phố lần thứ VI không đạt được.
*

* *
Trên đây là một số ý kiến của Cục Thống kê về tình hình kinh tế-xã hội thành phố Hồ Chí Minh 5 năm 1996-2000, cung cấp để các đồng chí tham khảo.